bể rửa siêu âm, tủ sấy, tủ ấm, bể ổn nhiệt, máy ly tâm, lò nung, máy đục gỗ, máy đục tượng
  1. Skip to Menu
  2. Skip to Content
  3. Skip to Footer>

Chuyên mục Phòng chống bệnh không lây nhiễm

PC-BENH-KO-LAY_BANNER-CHINH

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ VẮC XIN

PDF.InEmail


 Những đặc tính cơ bản của vắc xin bao gồm Tính kháng nguyên đặc thù và Tính sinh miễn dịch. Tính kháng nguyên đặc thù là khả năng kích thích cơ thể tạo thành kháng thể. Kháng nguyên mạnh là kháng nguyên khi đưa vào cơ thể một lần đã sinh ra nhiều kháng thể. Kháng nguyên yếu là những chất phải đưa vào nhiều hoặc phải kèm theo một tá dược mới sinh được một ít kháng thể. Tính sinh miễn dịch là vắc xin gây miễn dịch bằng một vi khuẩn hoặc vi rút giảm độc lực, hoặc với một loại protein đặc hiệu có tính kháng nguyên để gây ra một đáp ứng miễn dịch tạo ra hiệu quả đề kháng cho cơ thể về sau khi tác nhân gây bệnh xâm nhập với đầy đủ độc tính.

Một yếu tố quan trọng nũa của vắc xin cần quan tâm là sự đáp ứng miễn dịch. Đối với vắc xin được tiêm chủng lần đầu, thời gian tiềm tàng kéo dài từ 24 giờ (trung bình khoảng 1 tuần), tuỳ thuộc vào bản chất vắc xin và tính phản ứng của cơ thể. Hiệu giá kháng thể đạt được đỉnh cao nhất sau khoảng 4 ngày đến 4 tuần (trung bình 2 tuần). Đó là kết quả của đáp ứng tiên phát. Khi tiêm chủng nhắc lại, thời gian tiềm tàng sẽ rút ngắn, hiệu giá kháng thể đạt được đỉnh cao nhất chỉ sau một số ngày nhờ những tế bào lympho có trí nhớ miễn dịch. Đó là kết quả của đáp ứng miễn dịch thứ phát. Đối với những vắc xin phải tiêm chủng nhiều lần (khi tạo miễn dịch cơ bản), khoảng cách hợp lý giữa các lần tiêm chủng là 1 tháng. Nếu khoảng cách này ngắn hơn, mặc dù tiêm chủng lần sau nhưng kết quả đáp ứng của cơ thể vẫn chỉ như tiên phát, đáp ứng miễn dịch thứ phát sẽ không có hoặc bị hạn chế. Ngược lại vì một lý do nào đó phải tiêm chủng lần tiếp theo sau hơn 1 tháng, hiệu quả miễn dịch vẫn được đảm bảo, vì vậy lần tiêm chủng trước vẫn được tính. Tuy nhiên không nên kéo dài việc tiêm chủng nếu không có những lý do bắt buộc, vì trẻ có thể bị măc bệnh trước khi được tiêm chủng đầy đủ. Đây là lý do vì sao trong tiêm chủng không có thời hạn tối đa mà chỉ có thời hạn tối thiểu giữa các mũi tiêm. Thời gian tiêm chủng nhắc lại tuỳ thuộc vào thời gian duy trì được tình trạng miễn dịch có đủ hiệu lực bảo vệ của mỗi loại vắc xin. Thời gian này khác nhau đối với các loại vắc xin khác nhau. Khi tiêm chủng nhắc lại thường chỉ cần 1 lần. Với lần tăng cường này, cơ thể sẽ đáp ứng miễn dịch nhanh và mạnh hơn, cho dù kháng thể của lần tiêm chủng trước chỉ còn lại rất ít.

Hiện nay vắc xin được chia thành hai loại là  Vắc xin sống giảm độc lực và Vắc xin chết. Vắc xin sống giảm độc lực là những tác nhân nhiễm trùng tự nhiên, được làm giảm độc một cách nhân tạo ở phòng thí nghiệm. Phần lớn những vắc xin sống hiện có là những vắc xin vi rút: Vắc xin Bại liệt, Sởi, Rubella, Quai bị. Vắc xin vi khuẩn sống thường sử dụng là BCG. Vắc xin chết là những chế phẩm kháng nguyên đã mất khả năng nhiễm trùng nhưng còn bảo tồn tính chất gây miễn dịch. Người ta phân biệt:

Vắc xin chết toàn thể: Loại vắc xin này chứa tất cả các thành phần của tác nhân nhiễm trùng, giết chết bằng nhiệt, formol hoặc b-propiolacton, bao gồm vắc xin Ho gà, Thương hàn (TAB), Tả uống, Cúm, Bại liệt, Dại....

Vắc xin giải độc tố: Những vắc xin này chết nhưng chỉ chứa kháng nguyên tinh chế: Loại vắc xin này chỉ bao gồm thành phần kháng nguyên quan trọng nhất về phương diện sinh miễn dịch của vi khuẩn hoặc vi rút được tinh khiết và làm bất hoạt. Ví dụ như vắc xin chứa giải độc tố vi khuẩn bản chất protein: vắc xin Uốn ván, Bạch hầu…

Vắc xin tách chiết: là vắc xin công nghệ cao, loại chỉ tách lấy một phần vách (vỏ) chứa thành phần kháng nguyên đặc thù Polysaccharide của vi khuẩn (vắc xin Não mô cầu, Phế cầu), vắc xin chứa thành phần kháng nguyên vi rút (vắc xin Viêm gan B được điều chế từ HBsAg có trong huyết tương những người nhiễm kháng nguyên này). Những vắc xin chết có ưu điểm không có nguy cơ nhiễm trùng. Những bất lợi bao gồm: giá thành thường cao, nguy cơ mẫn cảm, tiêm ngừa nhiều lần và lặp lại.

Vắc xin tái tổ hợp (vắc xin công nghệ mới): Là những vắc xin được sản xuất dựa vào kỹ thuật di truyền và công nghệ gen, như vắc xin viêm gan B tái tổ hợp.

 Việc sử dụng vắc xin phải đảm bảo các nguyên tắc sau: Tiêm chủng trên phạm vi rộng, đạt tỷ lệ cao. Tiêm chủng đúng đối tượng. Bắt đầu tiêm chủng đúng lúc, bảo đảm đúng khoảng cách giữa các lần tiêm chủng, tiêm chủng nhắc lại đúng thời gian. Tiêm chủng đúng đường và đúng liều lượng. Nắm vững phương pháp phòng và xử trí các phản ứng không mong muốn do tiêm chủng. Bảo quản vắc xin đúng quy định. Những khu vực có lưu hành bệnh truyền nhiễm, tiêm chủng phải đạt trên 80% đối tượng chưa có miễn dịch mới có khả năng ngăn ngừa được dịch. Nếu tỷ lệ tiêm chủng chỉ đạt trong khoảng 50 đến 80%, nguy cơ xảy ra dịch chỉ giảm bớt. Nếu tỷ lệ tiêm chủng dưới 50% dịch vẫn dễ dàng xảy ra. Trẻ em là đối tượng cần được đặc biệt quan tâm. Sau khi hết miễn dịch thụ động do mẹ truyền (khoảng 6 tháng sau sinh), nguy cơ mắc bệnh nhiễm trùng của trẻ rất lớn. Mặt khác miễn dịch thụ động nhờ kháng thể truyền qua rau thai hoặc qua sữa chỉ có đối với những bệnh mà cơ chế bảo vệ chủ yếu là do miễn dịch dịch thể. Đối với những bệnh nhiễm trùng mà cơ chế bảo vệ là miễn dịch qua trung gian tế bào thì trẻ có thể bị bệnh ngay từ những tháng đầu tiên sau khi sinh.

Không được tiêm chủng cho các đối tượng sau đây: Đang sốt cao. Những trường hợp đang bị nhiễm trùng nhẹ không sốt hoặc chỉ sốt nhẹ thì không cần phải hoãn tiêm chủng. Tình trạng dị ứng. Những người có cơ địa dị ứng hoặc có lịch sử gia đình bị dị ứng vẫn tiêm chủng được, nhưng cần phải theo dõi cẩn thận hơn. Thiếu hụt miễn dịch, đang dùng thuốc ức chế miễn dịch, bệnh ác tính không tiêm Vắc xin sống giảm độc lực như Bại liệt, Sởi, Rubella, Quai bị và BCG.  Không tiêm tất cả các loại vắc xin vi rút sống giảm độc lực cho Phụ nữ đang mang thai.

Mỗi loại vắc xin đòi hỏi một cách thức chủng ngừa thích hợp. Người ta sử dụng nhiều phương pháp chủng ngừa bao gồm đường tiêm: có thể tiêm trong da tiêm dưới da hoặc tiêm bắp, không bao giờ tiêm vắc xin vào đường tĩnh mạch. Đường uống là đường đưa vắc xin vào cơ thể dễ thực hiện nhất. Tuy nhiên chỉ thực hiện được đối với những vắc xin không bị dịch đường tiêu hoá phá huỷ. Đường uống lợi điểm là kích thích miễn dịch tại chỗ mạnh hơn nhiều so với đường tiêm, nhưng đường uống không bảo đảm sự cố định của vi rút trong vắc xin. Ngoài ra còn một số loại vắc xin sử dụng qua đường ngậm dưới lưỡi, nhỏ mũi…

Nhiệt độ cao và ánh sáng phá huỷ tất cả các loại vắc xin, nhất là những vắc xin sống như vắc xin Sởi, Bại liệt và BCG. Ngược lại, đông lạnh phá huỷ nhanh các vắc xin giải độc tố như vắc xin phòng uốn ván và bạch hầu. Trong quá trình sử dụng ở cộng đồng, các vắc xin cần được bảo quản ở nhiệt độ trong khoảng từ 20C đến 80C. Một trong những công việc quan trọng nhất trong việc tổ chức tiêm chủng là tạo lập được dây chuyền lạnh. Dây chuyền lạnh không đơn thuần là có các nhà lạnh, tủ lạnh, các phích đá hoặc các hộp cách nhiệt mà còn phải lưu ý cả những khâu trung gian trong quá trình vận chuyển vắc xin và tiến hành tiêm chủng. Vắc xin nếu đã bị phá huỷ dù có được bảo quản lại ở điều kiện thích hợp cũng không thể có hiệu lực trở lại, cũng không có tác dụng nữa, phải loại bỏ. Trịnh Đăng Tuấn (TTYT Đà Lạt- Tổng hợp từ trang Thông tin điện tử Viện kiểm định vắc xin và sinh phẩm y tế)

T4G Lâm Đồng

Lượt Truy Cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay219
mod_vvisit_counterTuần này3847
mod_vvisit_counterTháng này12807

Hiện có: 12 khách truy cập
Hôm nay: 21 Tháng 10, 2018

Ban Biên Tập Website

Chịu trách nhiệm nội dung:
- TS. Nguyễn Văn Luyện - Giám đốc Trung tâm TT-GDSK Lâm Đồng

Ban biên tập:
- TS. Nguyễn Văn Luyện - Trưởng ban
- ThS. BS. Võ Kim Hải - Phó Trưởng ban
- CN. Nông Thị Thái Tuyền - Thư ký
- CN. Trương Thị Hợp
- ThS. Nahria Ka Sum

Trình bày website:
- ThS. Nahria Ka Sum
- CN. Đinh Thị Hồng Loan

Sức khoẻ cho mọi người

<< >> Trang:

Phòng bệnh ho gà ở trẻ

Nhiều trẻ mắc ho gà vì không tiêm phòng Một tháng trở lại đây, Bệnh viện Nhi Trung ương tiếp nhận nhiều trẻ nhỏ vào viện trong tình trạng suy hô...

30 Tháng 3 2017 Sức khoẻ tổng quát

Xem thêm

Virus Zika có thể truyền từ muỗi mẹ sang…

Virus Zika có thể truyền từ muỗi mẹ sang trứng và bọ gậy. Đây là phát hiện mới của các nhà khoa học Mỹ vừa công bố. Điều này làm...

13 Tháng 9 2016 Sức khoẻ tổng quát

Xem thêm

VIÊM KẾT MẠC - BỆNH THƯỜNG GẶP VÀO MÙA …

VIÊM KÊT MẠC-BỆNH THƯỜNG GẶP VÀO MÙA HÈ Bệnh viêm kết mạc cấp, còn được gọi bằng một cái tên dân dã là “đau mắt đỏ”. Đây là một bệnh rất...

25 Tháng 7 2016 Sức khoẻ tổng quát

Xem thêm

Hiểu đúng về virus Zika

Hầu hết những người bị nhiễm virus Zika không biết mình đang mắc bệnh bởi vì không có triệu chứng. Bệnh thường nhẹ với các triệu chứng kéo dài trong...

13 Tháng 4 2016 Sức khoẻ tổng quát

Xem thêm

Chuyên Đề

Chủ đề Ngày Thế giới không thuốc lá 2016 của Tổ chức Y tế Thế giới

Hàng năm, vào ngày 31 tháng 5, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các đối tác cùng kỷ niệm Ngày Thế giới Không thuốc lá. Mục đích nhằm nêu bật những nguy cơ sức khỏe liên quan đến sử dụng thuốc lá và ủng hộ các chính sách hiệu quả để giảm sử dụng thuốc lá.

Xem thêm...

Thông điệp ngày dân số thế giới 11/7/2012

  • Xây dựng một thế giới mà ở đó mỗi lần có thai đều được mong đợi... mỗi lần sinh con đều được an toàn... và mỗi thanh niên đều được phát triển hết tiềm năng của mình.
  • Sức khoẻ sinh sản là quyền và sức khoẻ của phụ nữ, nam giới, thanh niên...

    Xem thêm...

Hoạt động hưởng ứng ngày vi chất dinh dưỡng 1-2/6/2012

Trong những năm qua, hoạt động phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng (thiếu vitamin A, thiếu máu dinh dưỡng, thiếu I ốt) đã đạt được những thành tích đáng kể...

Xem thêm...

Thuốc lá là nguyên nhân gây nhiều bệnh nguy hiểm cho sức khỏe

Thuốc lá là nguyên nhân của bệnh tật và tử vong. Khói thuốc lá chứa hơn 4.000 chất hóa học, trong đó có 43 chất là tác nhân gây ung thư. Khi bạn hút thuốc, tất cả các chất này sẽ đi vào cơ thể và gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm khác nhau, trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm như ung thư phổi, các bệnh đường hô hấp và tim mạch.

Xem thêm...

Phòng chống rối loạn do thiếu i-ốt

Hiện nay, trên thế giới có khoảng một tỷ rưỡi người sống trong vùng thiếu iốt và có nguy cơ bị các rối loạn do thiếu iốt. Trong đó 655 triệu người có tổn thương não và 11,2 triệu người bị đần độn. Việt Nam là một nước nằm trong vùng thiếu iốt. Tỷ lệ thiếu iôt rất cao và phổ biến toàn quốc từ miền núi đến đồng bằng...

Xem thêm...